Lời giải “2 tàu ăn thịt người” mất tích bí ẩn ở Bắc Cực

Nghiên cứu mới của các nhà khoa học đã phần nào lý giải cái chết của 129 thành viên thủy thủ đoàn trên hai con tàu mất tích 170 năm qua ở Bắc Cực.


Hai tàu thám hiểm do Đô đốc Anh John Franklin đã không bao giờ có thể quay về.

Theo Daily Mail, hơn 170 năm trước, Đô đốc Anh John Franklin cùng 129 thủy thủ trên 2 con tàu HMS Erebus và HMS Terror, đi khám phá Bắc Cực và không bao giờ quay trở lại.

Trong cuộc thám hiểm định mệnh đó, các thành viên thủy thủ đoàn bị mắc kẹt vào năm 1846 ở vùng cực thuộc phía bắc Canada ngày nay.

Con tàu tích trữ một lượng lớn lương thực và nước uống nên thủy thủ đoàn vẫn tồn tại được thêm hai năm trên đảo hoang để chờ tình hình khả quan giúp băng tan, giải phóng tàu.

Năm 2014 và 2016, xác 2 con tàu Erebus và Terror mất tích mới được phát hiện dưới đáy biển sau 170 năm. Manh mối còn sót lại là cảnh tượng thủy thủ đoàn chết với phần miệng “cứng, khô và đen”, theo lời kể của người bản địa Inuit.

Những người bản địa từng nói năm 1853 rằng, đã nhìn thấy hàng chục người da trắng đói rét, ốm yếu đi lại trên băng cho tới khi gục chết vì kiệt sức.

Toàn bộ thành viên thủy thủ đoàn đều chết thảm nhưng cách mà họ đối mặt với cái chết từ lâu vẫn là điều bí ẩn. Nhiều giả thuyết được đưa ra và phổ biến nhất là khả năng các thủy thủ đoàn đã ăn thịt nhau để tồn tại cho đến ngày cuối cùng.

Nghiên cứu mới được công bố do các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Michigan, Mỹ, phần nào hé lộ thời khắc cuối cùng của những người xấu số trên 2 tàu HMS Erebus và HMS Terror.

Giáo sư Russell Taichman, người dẫn đầu nghiên cứu, đã đặc biệt lưu ý đến tình trạng khô miệng và thâm đen của thủy thủ đoàn xấu số. Ông cùng cộng sự Mark MacEachern đã so sánh triệu chứng của các thủy thủ với 1.718 trường hợp bệnh lý ghi nhận.

Ông Taichman hoàn toàn bất ngờ khi nhận ra chứng bệnh Addison, vốn không phải là nguyên nhân gây tử vong, liên tục xuất hiện trong quá trình phân tích.

Bệnh Addison gây ra rối loạn hiếm gặp của tuyến thượng thận, khiến người bệnh không kiểm soát được lượng muối trong cơ thể và có thể bị mất nước.


Xác ướp một thủy thủ trong đoàn thám hiểm được các nhà nghiên cứu tìm thấy sau 170 năm.

Họ liên tục bị sút cân dù ăn uống đầy đủ. Đây là hai dấu hiệu mà các thành viên thủy thủ đoàn gặp phải do người bản địa Bắc Cực, Inuit quan sát được. Căn bệnh này khiến làn da sẫm màu hơn, lý giải vì sao người Inuit nhìn thấy xác chết có miệng màu đen.

Nếu chỉ chứng minh là các thủy thủ đoàn mắc bệnh thì chưa thể lý giải được cái chết của họ. Theo Daily Mail, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng của bệnh lao trong phần xương của 3 thủy thủ đã chết và được chôn cất tại một hòn đảo gần đó, trước khi hai tàu thám hiểm gặp nạn.

Ngoài ra, các thủy thủ dường như cũng bị ngộ độc chì ở một mức độ nào đó vì sử dụng vật nhọn nhiễm chì để mở đồ hộp và một lượng chì ngấm vào cơ thể qua nước uống.

“Việc thiếu hụt vitamin và nhiễm chì có thể là nguyên nhân khiến các thủy thủ mắc bệnh Addison. Nhưng chúng tôi vẫn cần phải nghiên cứu thêm để xác định chính xác mối liên hệ”, Giáo sư Taichman nói.

Ông Taichman nhấn mạnh: “Việc phát hiện ra dấu hiệu của bệnh lao và bệnh Addison dẫn đến những hiểu biết sâu sắc hơn về một trong những chuyến thám hiểm Bắc Cực bí ẩn nhất thế giới”.

Giáo sư Taichman là người đặc biệt quan tâm đến vùng Cực. Khi còn nhỏ, cha ông thường kể cho con mình nghe những câu chuyện thám hiểm Bắc Cực.

Ông Taichman đã đến Bắc Cực 16 lần trong những chuyến đi bộ dài ngày, thả neo quan sát tảng băng trôi hay cầu hôn vợ.

Theo Đăng Nguyễn - Daily Mail (Dân Việt)

Bí ẩn chưa được giải đáp về quái vật biển khổng lồ hình người tại Nam Cực

quái vật biển hình người gây xôn xao cho cả thế giới một thời gian dài. Sự thật về nó là gì?

Tròn một thập kỷ trước (2007), một nhà khoa học người Nhật đã chia sẻ về một con quái vật do chính mắt ông nhìn thấy. Ông cho biết bản thân đã nhìn thấy một sinh vật bí ẩn dưới đáy đại dương tại Nam Cực. Nó có màu trắng, dài tới 30m, mang thân hình của một loài cá nhưng có 2 tay giống như người.


Bức hình "hư cấu" về Ningen, theo mô tả của những người chứng kiến

Dù chỉ kịp quan sát trong khoảnh khắc, nhưng sau đó ông vẫn đưa câu chuyện ra thảo luận cùng các nhà khoa học khác.

Tất nhiên, mọi người đều cho rằng đó là một câu chuyện hoang đường. Nhưng thái độ tất cả đã thay đổi kể từ khi một đoạn video kỳ lạ xuất hiện, trong đó ghi lại một sinh vật biển khổng lồ có hình dạng rất bí ẩn mà không ai giải thích được.

Trong nhiều năm, tin đồn bắt đầu lan tỏa về một quái vật bí ẩn chưa từng được biết đến, đang lẩn khuất đâu đó trong vùng nước băng giá tại Nam Cực.

Người Nhật gọi nó là Ningen (人間 - nghĩa là "Nhân gian") - dựa trên mô phỏng về một con quái vật có hình người trong truyền thuyết của quốc gia này.


Vậy rốt cục, sự thật về con quái vật này là gì? Câu chuyện về con thủy quái bí ẩn sẽ được chúng ta mổ xẻ ngay dưới đây.

Ningen - thủy quái khổng lồ có hình người


Một bức hình được cho là của Ningen nhưng tính xác thực chưa rõ

Trong lời đồn, Ningen là một con quái vật được cho là đã tồn tại cùng thời với voi mammoth, nhưng vượt qua được sự khắc nghiệt của thiên nhiên và bàn tay của con người để tồn tại đến tận ngày hôm nay.

Nhưng hơn cả những câu chuyện hư cấu, đã có nhiều trường hợp cho rằng đã trông thấy Ningen. Đầu tiên là một ngư dân người Nhật vào năm 1990, cho rằng ông đã trông thấy một sinh vật khổng lồ màu trắng và có hình giống con người trên biển Thái Bình Dương.

Theo như những người chứng kiến, con quái này có tay, chân, thậm chí bàn tay của nó cũng có 5 ngón. Ngoài ra, đuôi của nó rất lớn, giống như cá voi vậy.


Hình ảnh ghi lại về sinh vật bí ẩn này

Nhưng đó có thể là một con cá lớn phải không? Mọi chuyện có thể tiếp diễn theo hướng như thế, nếu như không có thêm một vài trường hợp tuyên bố đã nhìn thấy Ningen.

Như trong báo cáo của một đoàn thám hiểm tại khu vực gần Nam Cực, họ trông thấy vật thể lạ ở phía xa. Lúc đầu, đoàn thuyền cho rằng đó có thể là một tàu ngầm, nhưng khi lại gần quan sát thì không phải.

Vật họ tưởng là tàu ngầm hóa ra là một sinh vật sống khổng lồ, và gần như ngay lập tức nó lặn sâu xuống làn nước lạnh giá của Nam Cực.
Một số báo cáo khác cho biết Ningen xuất hiện cả ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Ngoài ra, có thông tin chỉ ra rằng Ningen là loài vật sống về đêm, lại chọn các khu vực nước sâu, lạnh để sinh sống.

Cũng vì vậy mà bí ẩn về Ningen ngày càng khó kiểm chứng, vì việc theo sát một sinh vật biển sống về đêm là chuyện rất khó khăn.

Sự thật về Ningen?

Nếu đó là những gì bạn đang thắc mắc thì xin chia buồn, câu hỏi ấy chưa có đáp án rõ ràng. Ningen hiện vẫn đang là một trong những sinh vật bí ẩn mà khoa học chưa thể xác định.

Tuy nhiên, khoa học đang đánh giá Ningen vào dạng "thần thoại" thời hiện đại. Các thông tin về quái vật này chủ yếu xuất hiện trong các forum trên mạng - nơi mọi người thỏa sức chia sẻ những câu chuyện chưa cần đến sự kiểm chứng.

Hơn nữa, một số quái vật đại dương - như Krakken - đã được lý giải, nên khả năng Ningen cũng vậy là rất cao.
Bên cạnh đó, khoa học cũng đặt ra một vài giả thuyết về sinh vật bí ẩn này. Nổi bật nhất là giả thuyết cho rằng Ningen là một con cá đuối khổng lồ, thỉnh thoảng nổi lên mặt nước để "tạo tiếng vang" cho những người giàu tưởng tượng.

Ngoài ra ở trường hợp của vị giáo sư người Nhật, có thể nó đã nguỵ trang cùng một số tảng băng trôi, khiến vị ông nhầm lẫn.
Tuy nhiên, nếu chỉ là cá đuối thì thật khó giải thích vì sao đến tận bây giờ bí ẩn vẫn chưa được giải đáp. Thế nên, các chuyên gia đưa ra thêm một giả thuyết khác: một con cá voi bạch tạng!


Nhưng cũng có thể nó chỉ là một con cá voi bạch tạng?

Nhưng dù sao, đáy biển vẫn là một nơi bí ẩn với con người. Trải qua hàng ngàn năm, chúng ta mới chỉ khám phá được chưa đầy 5% các bí ẩn dưới đại dương. Thế nên biết đâu đấy, Ningen có thật và đang lẩn khuất đâu đó thì sao?

Còn bạn, bạn nghĩ Ningen là gì? Hãy để lại bình luận nhé.

Nguồn: Ningen Mysterious, Ancient Code, Mirror...

Ông lão nhặt được 200 nghìn mỗi ngày trong suốt 10 năm

Ông Lý là người nhặt ve chai trên các khu phố để kiếm sống. Mỗi khi xế chiều, ông lại đến các điểm thu gom rác để tìm kiếm những chai lọ mà mọi người vứt bỏ, ông sẽ nhặt chúng về để bán lấy tiền. Mặc dù cuộc sống rất khổ cực nhưng ông chưa bao giờ nghĩ đến việc đi ăn xin. Ông nghĩ rằng chỉ cần có sức khỏe thì tuyệt đối không sống nhờ vào sự bố thí của người khác. Nếu như trên đường đi nhặt được tiền, ông sẽ nghĩ rằng số tiền này là ông Trời đang thương xót ưu ái ông.


CHUYỆN CỦA CHIM YẾN

Có 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở Khánh Hoà có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…


Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá…Ông nói tội lắm em ơi…đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ…Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm…Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…

Câu chuyện ray rức lòng người. Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng. Để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim chống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác. Mùa khai thác Tổ Yến. Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung. Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình. Không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến…Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm. Không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ. Yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.

Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Nên các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến chống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.
Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy.

Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.

Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.
Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt. Hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.

Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”…
Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.

Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?

Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó.

STOP EATING BIRD'S NESTS
(The edible sea swift's nests)

Bộ kimono bí ẩn thiêu rụi thành Tokyo cổ

Người ta cho rằng bộ kimono là lời nguyền khiến ba cô gái trẻ cùng chết một ngày và làm cho thành Tokyo cổ chìm trong biển lửa.

Đến Tokyo, một trong những câu chuyện du khách sẽ được nghe kể là về bộ kimono bí ẩn, khởi nguồn cho trận hỏa hoạn thiêu rụi thành phố khi xưa.

Edo là tên gọi cũ của thủ đô Tokyo, Nhật Bản ngày nay. Năm 1603, Tokugawa Ieyasu lên nắm quyền và bắt đầu xây dựng kinh tế, chính trị ở Edo, biến nơi đây trở thành một trong những thành phố lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Ngoài ra, Tokugawa cũng đã xây dựng cho mình một đội cứu hỏa được huấn luyện bài bản và trang bị đầy đủ thiết bị chữa cháy.


Thành Edo khi xưa nay là Tokyo. Ảnh: Metro.

Lâu đài Edo được đặt trên nền đất cao ở trung tâm thành phố, với nhiều vòng tròn chia thành các khu vực dành cho những người thuộc từng ngành nghề và tầng lớp xã hội sống tách biệt nhau. Cũng giống như các thành phố châu Á khác, thành Edo chủ yếu được xây dựng bằng gỗ, giấy gạo, và dùng than củi để sưởi ấm.

Khi đó, thành phố được quy hoạch thô sơ, đường sá chật hẹp, quanh co và nhà cửa nằm san sát nhau. Đây chính là nguyên nhân khiến nơi này từng hứng chịu hơn 100 vụ cháy. Trong đó, trận cháy Meireki xảy ra ngày 2/3/1657 là trận cháy lịch sử, khởi nguồn từ một bộ kimono bí ẩn.


Ba chủ nhân của bộ kimono đều chết cùng ngày. Ảnh: Wiki Visually.

Tương truyền, bộ kimono Meireki (tên một loại kimono dành cho các cô gái độc thân trong những ngày lễ truyền thống ở Nhật) bị cho là lời nguyền khiến ba cô gái trẻ qua đời. Tất cả đều chết trước khi được mặc nó vào đúng ngày 16/1 trong ba năm Minh Lịch liên tiếp. Điều này khiến mọi người đều coi là điềm xấu. Vì vậy, một thầy tu đã quyết định giải lời nguyền bằng cách đốt bộ kimono này.

Khi bộ kimono đang bị thiêu thì bất ngờ một cơn gió mạnh từ phía tây bắc thổi qua khiến ngôi chùa bùng cháy dữ dội. Ngọn lửa sau đó nhanh chóng lan ra các khu vực lân cận do trận hạn hán năm trước khiến thành Edo khô cằn hơn. Vì vậy, đội quân cứu hỏa của Tokugawa Ieyasu cũng không thể khống chế được trận cháy.

Vào buổi tối thứ hai, gió đổi hướng đẩy ngọn lửa từ phía nam vào khu vực trung tâm thành phố, nuốt trọn gần như toàn bộ thành Edo. Cuối cùng, sau ba ngày, ngọn lửa dập tắt. Ước tính có tới 100.000 người chết, 60-70% kinh thành bị thiêu rụi, trong đó có 300 đền đài, 500 cung điện, 9.000 cửa hàng, 61 cây cầu. Thiệt hại lớn tới mức có thể so sánh với đại thảm họa động đất Kantō năm 1923 và vụ ném bom nguyên tử của Mỹ năm 1945 lên hai thành phố lớn của Nhật trong thế chiến 2.


Trận cháy Meireki xảy ra đã thiêu rụi ba phần tư kinh thành Edo. Ảnh: Mheu.

Việc tái thiết Edo được tiến hành trong vòng hai năm dưới sự lãnh đạo của vị tướng Rōjū Matsudaira Nobutsuna. Đường phố được mở rộng hơn, một số quận, đặc biệt là khu vực trung tâm được sắp xếp, tổ chức lại nhằm khôi phục và thúc đẩy nền kinh tế. Ngoài ra, chính phủ cũng trợ cấp cho samurai và cả thường dân một phần kinh phí để xây dựng nhà cửa và ổn định lại cuộc sống. Đế chế của Tokugawa kéo dài đến năm 1867, khi thành phố Edo được đổi tên thành Tokyo như ngày nay.

Theo Ngôi sao

Câu chuyện của tin đồn

Người ta nói rằng: ‘Lời nói gió bay’. Nhưng không phải bất cứ chuyện nào cũng như vậy. Lời đã nói ra có thể gây ra một hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng tới cả tính mạng. Câu chuyện của chú lừa chăm chỉ làm việc nhưng lại bị giết hại sau đây khá là thú vị, sẽ cho chúng ta một bài học đắt giá.


Ảnh minh họa